Văn hoá Doanh nghiệp ở nước ta hiện nay
Xây dựng và phát triển văn hoá doanh nghiệp của
nước ta hiện nay có tác dụng rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu
quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp theo yêu cầu phát triển kinh tế
đất nước và hội nhập kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Từ thực tiễn,
xin thử gợi ra một số suy nghĩ để cùng trao đổi về vấn đề văn hoá doanh
nghiệp trong thể chế kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.Văn hoá doanh nghiệp: nền tảng của sự phát
triển
Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ những giá trị
tinh thần mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh tác động
tới tình cảm, lý trí và hành vi của các thành viên cũng như sự phát triển bền
vững của doanh nghiệp. Văn hoá doanh nghiệp gắn với đặc điểm từng dân tộc,
trong từng giai đoạn phát triển cho đến từng doanh nhân, từng người lao động,
do đó, rất phong phú, đa dạng. Song Văn hoá doanh nghiệp cũng không phải là vô
hình, khó nhận biết mà rất hữu hình, thể hiện rõ một cách vật chất, chẳng những
trong hành vi kinh doanh giao tiếp của công nhân, cán bộ trong doanh nghiệp, mà
cả trong hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp, từ mẫu mà, kiểu dáng đến nội
dung và chất lượng. Văn hoá doanh nghiệp là cơ sở của toàn bộ các chủ trương,
biện pháp cụ thể trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phối kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy, có thể nói thành công hoặc thất bại
của các doanh nghiệp đều gắn với việc có hay không có văn hoá doanh nghiệp theo
đúng nghĩa của khái niệm này.
Ở nước ta nếu chỉ tính trong 100 năm qua, thì
trong những năm đất nước bị đô hộ, nhiều doanh nhân đã khởi xướng những ý tưởng
rất mới trong việc phát triển công thương nghiệp, hình thành những nền móng đầu
tiên của văn hoá doanh nghiệp nước ta, đó là tinh thần dân tộc trong kinh
doanh, dũng cảm cạnh tranh với tư bản Pháp, Hoa lúc đó đang làm chủ trên thị
trường. Lịch sử đã ghi lại tên tuổi của những doanh nhân thời đó là "tư sản
dân tộc" như Bạch Thái Bưởi, được coi là "vua vận tải Bắc Việt đầu
thế kỷ", "bậc anh hùng trong kinh tế giới nước nhà" (lời nhà học
giả Nguyễn Văn Tố), như Nguyễn Sơn Hà, chủ hãng sơn Resistanco dùng thương hiệu
của mình đáng bại nhiều hãng sơn đương thời, như Trần Chánh Chiếu, đã chủ trì
nhiều cơ sở kinh doanh và ra báo, là một trong những nhân vật quan trọng của
phong trào Minh Tân đất Nam Kỳ vào những năm đầu của thế kỷ XX như Trương Văn Bền
với nhãn hiệu xà phòng Cô Ba nổi tiếng cả nước. Thời đó, phong trào Duy Tân dấy
lên rầm rộ từ miền Trung đến miền Bắc, ngoài việc khuyến khích nâng cao dân
trí, canh tân đất nước, đã kích thích nhiều doanh nhân người Việt lập ra các
hiệu buôn, đề cao tinh thần dân tộc trong kinh doanh. Rồi đây, chúng ta còn có
dịp tổng kết để đánh giá một cách đầy đủ hơn những bước phát triển của doanh
nhân Việt Nam trong lịch sử, nhưng điều có thể khẳng định là: trên khắp đất
nước ta, trong những năm bị đế quốc thống trị, đã có không ít những doanh nhân
ý thức được nỗi đau mất nước, luôn luôn đề cao tinh thần dân tộc trong kinh
doanh, - một nội dung cơ bản của văn hoá doanh nghiệp.
Trong những năm thực hiện thể chế kế hoạc hoá tập
chung, do thị trường và các quy luật của thị trường không được công nhận, các
doanh nghiệp nước ta tiến hành sản xuất kinh doanh theo chỉ tiêu pháp lệnh được
ban hành từ trên, sản phẩm làm ra được giao nộp lên cấp trên, không tính đến
nhu cầu thị trường, không hoạch toán đến giá cả, cộng với tiền lương, tiền
thưởng trong doanh nghiệp không gắn với kết quả sản xuất, v.v... Thể chế kế
hoạch hoá tập trung cũng không bảo đảm trách nhiệm và quyền hạn của doanh
nghiệp với tư cách là một thực thể kinh doanh, hạn chế tính sáng tạo, tinh thần
kinh doanh của người quản lý doanh nghiệp. Tình trạng đó đã làm sai lệch bản
chất của kinh doanh, cũng có thể gọi đó là "sản xuất mà không kinh
doanh".
Tuy vậy, cũng trong thời kỳ này, có những cán bộ
quản lý doanh nghiệp đã mạnh dạn tìm tòi, thử nghiệp cách làm ăn mới, tạo ra
một số mô hình kinh doanh có hiệu quả. Những mô hình này đã nêu lên một số nét
đặc trưng của văn hoá doanh nghiệp thời kỳ đó: tinh thần dám nghĩ dám làm, năng
động sáng tạo, vươn lên khắc phục khó khăn, thiếu thốn. Truyền thống văn hoá đó
đã có ảnh hưởng tốt đối với thế hệ doanh nhân ngày nay.
Công cuộc đổi mới được khẳng định từ Đại hội toàn
quốc lền thứ VI của Đảng (12-1986) và thể chế kinh tế thị trường được công nhận
đã mở ra cho các doanh nghiệp, doanh nhân nước ta những điều kiện mới có ý nghĩa
quyết định để từng bước hình thành văn hoá doanh nghiệp phù hợp với đặc điểm
kinh tế, xã hội ở nước ta, đó là văn hoá doanh nghiệp Việt Nam. Công cuộc đổi
mới đã đem lại sự giải phóng các lực lượng sản xuất, quyền tự do kinh doanh
của mọi công dân trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Đó cũng là phát
huy sức mạnh của toàn dân tộc cho công cuộc trấn hưng đất nước; mọi người
được tự do phát huy tài năng, trí tuệ trong kinh doanh, làm giàu cho mình và
cho đất nước,như Đại hội IX của Đảng đã quyết định. Có thể nói đây là sự thể
hiện nổi bật nhất của văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý: là sự lãnh đạo phù hợp
quy luật phát triển của thời đại, phù hợp với nguyện vọng của cả dân tộc, một
dân tộc gan góc đấu tranh chống ngoại xâm trong hàng thế kỷ, nay không cam tâm
chịu mãi cảnh nghèo nàn, lạc hậu. Chính công cuộc đổi mới đã mở đường cho sự ra
đời và phát triển các doanh nghiệp dân doanh và đội ngủ doanh nhân mới, mở
đường cho sự hình thành và phát triển văn hoá doanh nhân mới, mở đường cho sự
hình thành và phát triển văn hoá doanh nghiệp Việt Nam.
Cụ thể, văn hoá doanh nghiệp thể hiện trên hai
mặt: mục đích kinh doanh và phương pháp kinh doanh, trong đó mục đích kinh
doanh là quyết định.
Về mục đích kinh doanh, thường có hai điểm
chung như sau:
- Đạt hiệu quả cao, tức là lợi nhuận tối đa cho
cá nhân và cho cộng đồng và hiệu quả xã hội. Điều cần phải coi trọng là mục
đích lợi nhuận và hiệu quả cá nhân, vì đó là động lực trực tiếp của mỗi doanh
nhân khi tiến hành kinh doanh; nhưng cũng có trường hợp mục đích lợi nhuận và
hiệu quả cá nhân mâu thuẫn với mục đích và hiệu quả xã hội; muốn đảm bảo sự
thống nhất giữa mụ đích cá nhân và mục đích cộng đồng thì cần phải xác định
đúng mức độ của từng mcụ đích và phương pháp để đạt cả hai phần mục đích.Xác
định cho đúng mức độ và phương pháp, đó chính là văn hoá doanh nhân.
- Có tính nhân văn, thể hiện về hai mặt: đối với
con người và đối với thiên nhiên. Đối với con người (là quan trọng nhất ) đó là
đáp ứng đến mức cao nhất nhu cầu của con người; là tôn trọng phẩm giá, nhân
cách con người, loại trừ việc xây dựng sự giầu có của mình trên sự khánh kiệt
của người khác; cũng là không chơi xấu, dùng những thủ đoạn, mánh khoé, cạm bãy
để hại nhau trong kinh doanh. Đối với thiên nhiên, đó là gắn kinh doanh với bảo
vệ môi trường sinh thái, không làm ô nhiễm, huỷ hoại môi trường cũng tức là bảo
đảm sự bền vững của mỗi doanh nhiệp cũng như của toàn bộ nền kinh tế.
Về phương pháp kinh doanh (phong cách kinh doanh)
cũng tức là doanh nghịêp đạt tới mục đích bằng con đường nào với những nguồn
lực nào. Tuy mục đích kinh doanh là nhân tốa quyết định nhưng phương pháp kinh
doanh lại liên quan chặt chẽ đối với việc thực hiện mục đích, có nghĩa là không
thể đạt mục đích băng bất cứ mục đích nào mà phải tuân theo những nguyên tắc
luật pháp và đại đức trong khi thực hiện cac phương pháp kinh doanh, đó chính
là văn hoá trong phương pháp kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong thực tế, có những điểm chung về phương pháp
kinh doanh, đó là:
- Tuân thủ pháp luật (kể cả pháp luật quốc gia,
quốc tế cũng như điều lệ, nội quy của từng doanh nghiệp); bảo đảm minh bạch,
công khai trong kinh doanh.
- Chú trọng khoa học quản lý, tuân theo các
nguyên lý quản lý khoa học, dựa vào khoa học mà tổ chức bộ máy quản lý, thực
hiện các phương pháp kinh doanh.
- Dựa vào vào khoa học, kỹ thuật, vận dụng công
nghệ tiên tiến trong điều hành sản xuất kinh doanh.
- Chú trọng quan hệ con người (đây cũng là một
khuynh hướng mới của phương pháp kinh doanh hiện đại); phát huy năng lực xã hội
(cũng còn gọi là vốn xã hội) bao gồm năm nhân tố: giới lãnh đạo chính trị, quan
chức quản lý, trí thức, doanh nhân, và người lao động; quan trọng nhất là khơi
dậy và phát huy tổng hợp các tiềm năng, thực hiện sự cố kết của các nhân tố đó
vì mục tiêu chung.
Có thể coi đó là những điểm chung nhất của văn
hoá doanh nghiệp. Những điểm chung đó được vận dụng cụ thể trong từng thời kỳ
nhất định, chịu ảnh hưởng của chế độ sở hữu , hệ thống thể chế (trong đó chủ
yếu là thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế hành chính, thể chế văn hoá)
của từng nước mà có những thay đổi theo những chiều hướng khác nhau. Điều quan
trọng cần nhấn mạnh là mục đích kinh doanh quyết định phương pháp kinh doanh;
mục đích kinh doanh nói lên tầm vóc cao, thấp của văn hoá doanh nghiệp.
Về văn hóa doanh nghiệp Việt Nam
Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam được hình thành là
một phần quan trọng của văn hóa Việt Nam được lưu truyền và bồi đắp từ thế hệ
này đến thế hệ khác mà chúng ta cần gìn giữ và bồi đắp tiếp trong giai đoạn
công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Văn hoá doanh nghiệp nước ta tiếp thu những nhân tố văn hoá trong kinh doanh
hình thành qua nhiều năm của các nền kinh tế hàng hoá trên thế giới, đồng thời
tíêp thu và phát huy những tinh hoa văn hoá trong kinh doanh của cha ông, vận
dụng phù hợp với đặc điểm của xã hội ngày nay, đó là hiện đại hoá truyền thống
đi đôi với sự truyền thống hoá hiện đại. Chỉ có như vậy mới kết hợp được tốt
truyền thống và hiện đại, đó là sự kết hợp có chọn lọc và nâng cao, từng bước
hình thành văn hoá doanh nghiệp mang đặc sắc Việt
Có thể nêu lên một số điểm nổi bật về văn hoá
doanh nghiệp nước ta trong giai đạon hiện nay như sau:
Trước hết, từ công cuộc đổi mới được bắt đầu đến
nay, ở nước ta đã dần dần hình thành mục đích kinh doanh mới, đó là kinh doanh vì
lợi ích của mỗi doanh nghiệp và lợi ích của cả dân tộc. Đương nhiên, tranh thủ
lợi nhuận tối đa là động cơ thúc đẩy ý trí kinh doanh của các doanh nghiệp, của
mỗi doanh nhân, chúng ta cần đặc biệt quan tâm, không vì nhấn mạnh lợi ích
chung mà coi nhẹ mục đích kinh doanh của mỗi cá nhân doanh nhân. Song, ngay
trong thời kỳ Pháp thuộc, chúng ta cũng có những doanh nhân không chỉ làm giàu
cho mình mà còn làm giàu cho đất nước như Bạch Thái Bưởi, vừa làm giàu vừa quan
tâm những hoạt động xã hội từ thiện như Nguyễn Sơn Hà. Ngày nay, mục đích kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp gắn với công cuộc phát triển kinh tế của đất nước,
vì lợi ích của cá nhân, gia đình và lợi ích của cả đất nước, dân tộc. Khác với
doanh nhân các nước kinh tế phát triển và cũng không nên bị nhìn nhận như giai
cấp bóc lột, doanh nhân nước ta ngày nay cũng có nỗi nhục của một dân tộc kiên
cường, thông minh mà vẫn phải chịu cảnh lạc hậu, kém phát triển. Mỗi doanh
nghiệp phát triển không chỉ vì bản thân doanh nhân, mà còn vì sự phát triển của
quê hương, của mỗi huyện, tỉnh; động cơ đó thúc đẩy mỗi doanh nhân vươn lên.
Mục đích ấy đang được thể hiện ngày càng rõ nét trong chiến lược phát triển của
mỗi doanh nghiệp; cũng đã được thể hiện trong các doanh nghiệp có hàng hoá được
người tiêu ding bình chọn đạt chất lượng cao trong những năm gần đây.
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng mục đích kinh doanh
của mỗi doanh nhân ở nước ta hiện nay cũng rất đa dạng về tính chất, bởi vì lẽ
sống của con người là đa dạng, phong phú, nhiều màu vẻ, nhất là trong điều kiện
nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi, thể chế kinh tế cũng đang được
chuyển đổi từng bước. Qua các cuộc kiểm tra xã hội học, có thể thấy một số
khuynh hướng nổi bật như: có những người chỉ mong kiếm được nhiều tiền; cũng có
người muốn qua kinh doanh mà, có danh tiếng lớn, uy tín và địa vị xã hội cao;
có người muốn vươn lên, tiếp nỗi truyền thống gia đình, báo hiếu cha mẹ; lại có
những người kinh doanh vì khao khát tự hoàn thiện bản thân, có ý chí mạnh về sự
phát triển tự do của con người trong chế độ xã hội mới, v.v…
Hai là, văn hoá doanh nghiệp đòi hỏi gắn bó chặt
chẽ hiệu quả kinh doanh và tính nhân văn trong kinh doanh; không thể đạt hiệu
quả bằng bất cứ giá nào mà coi nhẹ những giá trị nhân văn (tôn trọng con người,
bảo vệ môi trường). Điều đặc biệt quan trọng là nâng cao tinh thần cộng đồng
dân tộc trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, một đặc
điểm của văn hoá doanh nghiệp mà chúng ta cần xây dựng: chúng ta đề cao ý chí
tự lập, tự cường, sức vươn lên của mỗi doanh nghiệp, đồng thời huy động tính
cộng đồng, tính truyền thống "chị ngã, em nâng" của dân tộc. Đồng
thời chúng, khuyến khích doanh nghiệp tham gia các hoạt động xã hội, như xoá
đói giảm nghèo, cứu trợ đồng bào gặp thiên tai, tham gia các hoạt động từ
thiện.v.v…
Điều cần nhấn mạnh hiện nay là khắc phục chủ
nghĩa thực dụng, dùng mọi thủ đoạn để đoạt lợi nhuận cao, thậm chí siêu lợi
nhuận, bất kể việc làm đó có hại cho người khác, các thủ đoạn làm giàu bất chấp
tình nghĩa, thậm chí làm giàu trên sự đau khổ của đối tác, trên sự phá sản của
những doanh nghiệp yếu thế. Có thể thấy rõ nhược điểm về mặt này của doanh
nghiệp nước ta trong nhiều trường hợp như cạnh tranh bất hợp pháp, tranh giành
thị trường, đáng phê phán nhất là những thủ đoạn hạ giá, phá giá khi xuất khẩu
hàng hoá. Trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực hiện nay, khi cuộc cạnh
tranh về chất lượng và giá cả hàng hoá diễn ra gay gắt, chúng ta đề cao việc
nâng cao khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp lại càng phải đề cao tính tập
thể, truyền thống đoàn kết dân tộc trong kinh doanh.
Do vậy, cần đặc biệt phát huy vai trò của các
hiệp hội doanh nghiệp. Đó là những tổ chức xã hội – nghề nghiệp nhằm khai thác
mọi nguồn lực của xã hội, kể cả thu hút tài trợ từ bên ngoài, để phát triển các
hoạt động trợ giúp một cách trực tiếp, có hiệu quả thiết thực, khắc phục những
yếu kém của doanh nghiệp. Các hiệp hội doanh nghiệp có thể cung cấp nhiều loại
dịch vụ đa dạng cho hội viên (như cung cấp thông tin, tư vấn, đào tạo), cùng
nhau thương thảo giải quyết những vấn đề cụ thể mà tong doanh nghiệp riêng lẻ
không tự giải quyết được để bảo đảm lợi ích của mỗi ngành nghề, bảo đảm văn hoá
doanh nghiệp, khắc phục những khiếm khuyết của thị trường. Đương nhiên, lợi ích
của doanh nghiệp phải gắn bó hài hòa với lợi ích của cộng đồng, của toàn xã
hội, không nên chỉ đơn thuần coi trọng lợi ích của doanh nghiệp cùng ngành nghề
trở thành lợi ích phường hội.Đồng thời hiệp hội doanh nghiệp cũng được tạo điều
kiện để làm tốt vai trò cầu nối giữa hội viên với cơ quan của Chính phủ, đại
diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp, nhất là trong việc tham gia
soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Ba là, hình thành và phát huy văn hoá doanh
nghiệp trước hết là phải dựa vào con người. Đó là vì phát triển doanh nhân
không chỉ tăng vốn, tăng lợi nhuận, tăng thu nhập cho người lao động mà còn
phải tạo ra môi trường văn hoá doanh nghiệp tiến bộ cũng tức là tạo ra một sức
mạnh tổng thể cố kết và cổ vũ người lao động trong doanh nghiệp lao động sáng
tạo với niềm tin, một lý tưởng cao đẹp.Văn hoá doanh nghiệp là lý tưởng và các
nguyên tắc chi phối hành động của doanh nghiệp cũng như của mỗi thành viên là
hệ giá trị tạo nên nguồn lực cho sự phát triển bền vững của một doanh nghiệp,
do vậy, càng cần thiết phát huy nhân tố con người trong doanh nghiệp. Trình độ
nhân lực của ta hiện nay đang còn thấp so với yêu cầu (kể cả trình độ của người
lao động cũng như của người quản lý doanh nghiệp) càng làm nổi bật ý nghĩa hết
sức cấp bách của việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người trong khi xây
dựng văn hoá doanh nghiệp.
Có thể nêu lên ba cấp độ trong việc phát huy nhân
tố con người trong doanh nghiệp; cấp độ thứ nhất là nâng cao năng lực tiềm tàng
của mỗi công nhân, viên chức (thông qua biện pháp giáo dục, đào tạo về kinh tế,
công nghệ, quản lý ); cấp độ thứ hai là biến năng lực tiềm tàng đó thành hiện
thực, thông qua các biện pháp khuyến khích, kích thích sức sáng tạo trong lao
động sản xuất; cấp độ thứ ba là tập trung cho được các tiềm lực cá nhân của
công nhân viên chức vào việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp , thông qua
các biện pháp tổ chức quản lý sản xuất và nhân sự. Cấp độ thứ ba có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng bởi vì văn hoá doanh nghiệp không phải kết quả của sự phát
triển tự phát trong quá trình sản xuất kinh doanh mà nó được định hướng xây
dựng và hình thành trong ý thức tự giác của người quản lý doanh nghiệp, biểu
hiệnn tập trung quản lý doanh nghiệp, bởi người quản lý doanh nghiệp. Do vậy,
phải đào tạo và trọng dụng đội ngũ doanh nhân nắm được và vận dụng được văn hoá
doanh nghiệp vào trong tong hoạt động sản xuất kinh doanh cua doanh nghiệp,
trong quan hệ với các đối tác cũng như trong công việc quản lý, điều hành nội
bộ doanh nghiệp .
Bốn là, văn hoá doanh nghiệp của từng doanh
nghiệp Việt
Mỗi doanh nghiệp phải hình thành được những nét
chung của văn hoá doanh nghiệp Việt
Môi trường cho văn hoá doanh nghiệp
Có thể thấy rõ: văn hoá doanh nghiệp bao gồm các
yếu tố pháp luật và đạo đức. Văn hoá doanh nghiệp không thể hình thành một cách
tự phát mà phải được hình thành thông qua nhiều hoạt động của bản thân mỗi
doanh nghiệp, mỗi doanh nhân, của Nhà nước và các tổ chức xã hội. Thực tiễn cho
thấy hệ thống thể chế, đặc biệt là thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế
hành chính, thể chế văn hoá tác động rất sâu sắc đến việc hình thành và hoàn
thiện văn hoá doanh nghiệp.
Xin nêu lên một số điểm về thể chế cần được quan
tâm để hình thành và ngày càng hoàn thiện văn hoá doanh nghiệp phù hợp với đặc
điểm nước ta.
Trước hết, đó là khơi dậy tinh thần kinh doanh
trong nhân dân, khuyến khích mọi người, mọi thành phần kinh tế cùng hăng hái
tìm cách làm giầu cho mình và cho đất nước. Xoá bỏ quan niệm cho kinh doanh
là xấu, coi thường thương mại, chỉ coi trọng quan chức, không coi trọng thậm
chí đố kỵ doanh nhân. Xoá bỏ tâm lý ỉ lại, dựa vào bao cấp của Nhà nước, đề cao
những nhân tố mới trong kinh doanh, những ý tưởng sáng tạo, sáng kiến tăng năng
xuất lao động, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá. Tôn vinh những doanh nhân
năng động, sáng tạo, kinh doanh đạt hiệu quả cao, có ý chí vươn lên, làm rạng
rỡ thương hiệu Việt
Trong thực tế, trải qua những năm đổi mới, bằng
thể nghiệm của bản thân cũng như của mỗi gia đình, ngày nay, nhân dân ta đã
thấy rõ việc chuyển đổi từ kế hoạch hoá tập trung sang thể chế kinh tế thị
trường là tất yếu; thái độ của dân chúng đối với kinh tế thị trường là thái độ
thiện cảm. Vấn đề còn lại là các cơ quan Nhà nước phải tiếp tục thay đổi tư duy
quản lý, đề xuất những chủ trương, chính sách quản lý đủ mạnh để khuyến khích
hơn nữa tinh thần kinh doanh trong các thành phần kinh tế, tạo môi trường thuận
lợi về thể chế và tâm lý xã hội cho sự phát triển kinh tế tư nhân, xoá bỏ sự
phân biệt đối xử đối với kinh tế tư nhân kể cả trong tư duy cũng như trong các
chủ trương, chính sách cụ thể.
Hai là, Nhà nước cần tiếp tục hoàn chỉnh hệ
thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tạo lập
đồng bộ các yếu tố của thị trường, từng bước hình thành thể chế kinh tế thị
trường phù hợp với đặc điểm nước ta. Thực tế cho thấy, thể chế kinh tế có tác
động rất lớn đối với việc hình thành văn hoá doanh nghiệp. Do đó, điều cần nhấn
mạnh là thể chế kinh tế phải đủ sức khuyến khích doanh nhân phát huy truyền
thống văn hoá trong kinh doanh của cha ông, bổ sung những nhân tố mới trong văn
hoá doanh nghiệp của thời đại, kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống và hiện đại,
bảo đảm cho kinh tế thị trường triển khai lành mạnh, đạt hiệu quả cao, văn hoá
doanh nghiệp được hình thành với những đặc điểm của nước ta.
Thể chế đó phải chú trọng khuyến khích doanh
nghiệp xác định đúng đắn chiến lược kinh doanh, có mục tiêu phấn đấu lâu dài
nâng cao sức cạnh tranh, có chương trình làm ăn căn cơ theo định hướng quy
hoạch, kế hoạch chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế, không những phải thành công
trong nước mà còn vươn ra thế giới, đạt hiệu quả cao trong hội nhập kinh tế
quốc tế, khắc phục tâm lý kinh doanh cò con, manh mún, không đầu tư lớn, làm ăn
lâu dài.
Thế chế đó cũng phải khuyến khích doanh nghiệp
thực hiện các biện pháp hợp pháp trong việc mưu cầu lợi ích cá nhân, đạt lợi
nhuận cao cho doanh nghiệp và doanh nhân, đương nhiên có sự kết hợp hài hoà với
lợi ích toàn xã hội nhưng không vì thế mà đi đến triệt tiêu lợi ích cá nhân
cũng tức là triệt tiêu dộng lực kinh doanh. Đồng thời, phải ngăn chặn những
hành vi vi phạm pháp luật, gian lạn thương mại, những kiểu làm ăn phi văn hoá,
chạy chat cvửa sau, lợi dụng các quan hệkhông lành mạnhk để kiếm lời. Doanh
nghiệp phải tôn trọng, đặc biệt là giữ chữ tín đối với khách hàng và đối tác
kinh doanh.
Thể chế đó phải khuyến khích mọi thành phần kinh
tế, khắc phục phân biệt đối xử, bảo đảm cho các thành phần kinh tế hợp tác và
cạnh tranh bình đẳng trong khuôn khổ luật pháp; khắc phục tình trạng biến độc
quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp, tạo ra cạnh tranh không bình đẳng,
tạo ra cạnh tranh không bình đẳn, những khoản lợi nhuận không do tài năng kinh
doanh của doanh nghiệp mà do vị thế độc quyền mang lại, những điểm dẫn đến
triệt tiêu văn hoá doanh nghiệp. Điều cấp bách là Nhà nước phải có các qui phạm
pháp luật về khuyến khích cạnh tranh hợp pháp, kiểm soát và hạn chế độc quyền.
Thể chế đó cũng phải chú trọng nhân tố con người,
phát triển con người, đặc biệt coi trọng việc bồi dưỡng nhân tài, đãi ngộ xứng
đáng, tôn vinh doanh nhân giỏi. Trong doanh nghiệp, đó là đảm bảo thu nhập hợp
pháp của chủ doanh nghiệp tư nhân, là tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của
người lao động, đối xử bình đẳng, tạo ra môi trường hoà thuận, sự cố kết, chung
sứ chung lòng tập trung vào việc thực hiện mục tiêu kinh doanh, vì sự phát
triển bền vững của doanh nghiệp và lợi ích của mỗi thành viên trong doanh nghiệp.
Ba là, việc hình thành văn hoá doanh nghiệp cũng
đòi hỏi đẩy mạnh cuộc cải cách hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh,
chuyên nghiệp và hiện đại hoá. Đây là một yêu cầu hết sức bức xúc đối với toàn
bộ sự phát triển kinh tế đất nước ũng như đối với việc hình thành văn hoá doanh
nghiệp nước ta hiện nay. Điều cần nhấn mạnh hiện nay là tiếp tục xoá bỏ cơ chế
"xin-cho", xoá bỏ những thủ tục hành chính rườm rà gây tốn kém, tăng
chi phí đầu tư và giảm năng lực cạnh tranh của hàng hó. Phải sắp xếp lại bộ máy
tinh gọn, khắc phục chồng chéo, quan liêu, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của bộ
máy hành chính trong quản lý điều hành. Việc lành mạnh hoá cán bộ, công chức là
rất cần thiết để khắc phục tình trạng một số công chức do kém năng lực và phẩm
chất không những đã làm sai lệch những chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước
gây trở ngại, phiền hà dối với doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, mà trong
không ít trường hợp đã câu kết, tiếp tay cho những hành vi tiêu cực, vi phạm
pháp luật của doanh nghiệp, làm xấu văn hoá doanh nghiệp.
Rất cần phát triển một cáh thường xuyên, định kỳ
các cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa cơ quan nhà nước với doanh nghiệp, để cùng
trao đổi ý kiến về việc thực hiện các cơ chế, chính sách, qua đó doanh nghiệp
hiểu thêm nội dung các cơ chế, chính sách và cơ quan Nhà nước cũng nghe được
tâm tư, nguyện vọng của doanh nghiệp, nắm thêm thực tế giúp cho việc hoạch định
chính sách được sát thực tế hơn. Các cơ quan Nhà nước cần tạo thói quen làm
việc với hiệp hội doanh nghiệp, tôn trọng vcác quyền của Hiệp hội, lắng nghe và
giải quyết đúng pháp luật những kiến nghị của Hiệp hội doanh nghiệp. Đây cũng
chính là một nội dung quan trọng trong văn hoá quản lý.
Như vậy, văn hoá doanh nghiệp chỉ có thể được xây
dựng và hình thành trong môi trường văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý được đổi
mới, nâng cao, đúng tầm, có ảnh hưởng tích cực trở lại đối với văn hoá doanh
nghiệp.
Vũ Quốc Tuấn
Chuyên gia cao cấp
Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ
- 19/10/2008 09:25 - Văn hóa doanh nghiệp, yếu tố vàng của thành công
- 19/10/2008 09:15 - Những điều kiện để xây dựng Văn hóa doanh nghiệp
- 19/10/2008 09:04 - Xây dựng văn hoá doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
- 19/10/2008 08:38 - Đâu là văn hóa doanh nghiệp?
- 19/10/2008 08:35 - Văn hoá doanh nghiệp: Hành trang không thể thiếu trên đường hội nhập
- 15/10/2008 11:59 - Văn hoá Chủ động: Bí quyết của Thành công
- 15/10/2008 11:50 - Văn hóa E-mail Công sở
- 15/10/2008 11:47 - Thế Giới Phẳng và Việt Nam chúng ta
- 15/10/2008 11:25 - Cạnh tranh bằng Văn hoá Doanh nghiệp
- 15/10/2008 11:16 - Gắn Văn hóa Doanh nghiệp với Đời sống người lao động
- 15/10/2008 11:04 - Một góc nhìn về Văn hoá Doanh nghiệp

