Marketing Việt Nam - Tầm Nhìn 2007
Nội dung
3. Dự báo xu hướng marketing Việt Nam
4. Một số đề xuất
1. Thực trạng Marketing Việt Nam
Các thương hiệu nước ngoài
Thông thường các thương hiệu nước ngoài khi họ thâm nhập thị
trường Việt Nam, đối với họ việc nầy được xem như là việc phát triển thêm một
thị trường mới bên cạnh những thị trường mà họ đã sẵn có trong khu vực. Họ
không xuất phát như là một doanh nghiệp mới bắt đầu phát triển kinh doanh, xây
dựng một thương hiệu mới như đa số các doanh nghiệp Việt Nam.
Một điểm khác biệt cơ bản khác giữa những doanh nghiệp nước
ngoài so với đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam là các doanh nghiệp
nước ngoài vào thị trường Việt Nam với một chiến lược trung, dài hạn. Ngay từ
đầu họ đã sẵng sàng bỏ ra một ngân sách đầu tư cần thiết, và thậm chí sẵn sàng
chấp nhận lỗ lã từ 3-5 năm đầu tiên để thâm nhập thị trường và chiếm thị phần
đa số. Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam thường được cho là thiếu tầm nhìn
chiến lược, bị hạn chế bởi khả năng quản trị và trình độ chuyên môn, họ không
đủ sự tự tin và trình độ chuyên môn để đánh giá xu hướng, cũng như tiềm năng
của thị trường để mà có thể vạch ra một chiến lược lâu dài cho doanh nghiệp của
mình.
Khả năng tài chính hạn hẹp cũng là một trong những điểm hạn
chế cơ bản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Điểm hạn chế nầy chính
là sức ép làm cho các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động với ưu tiên là có thể tồn
tại trong giai đoạn trước mắt hơn là nhắm đến phát triển bền vững lâu dài trong
tương lai.
Các doanh nghiệp nước ngoài thường đưa sang Việt Nam những
nhân viên có bề dày kinh nghiệm từ các thị trường gần gủi với Việt Nam như
Philippines, Thái Lan, Indonesia và họ tuyển dụng những nhân viên địa phương am
hiểu thị trường địa phương để phối hợp với những nhân viên nước ngoài có trình
độ chuyên môn cao.
Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam thường chỉ có thể sử dụng nguồn nhân lực có
sẵn từ địa phương, nguồn nhân lực vốn thích hợp và quen thuộc với nền kinh tế
bao cấp hơn là thị trường cạnh tranh tự do.
Các thương hiệu đã vào thị trường VN trên 5 năm hiện đã trải
qua giai đoạn thăm dò và thâm nhập thị trường, hầu hết đã chiếm được vị trí khá
vững chắc trên thị trường (Coca Cola, Pepsi, Unilever, P&G, Toyota, Nestle,
BP, ICI…) và đã tạo ra lợi nhuận.
Qua quan sát có thể định hướng chiến lược chung của các doanh nghiệp nầy như
sau:
Củng cố vị trí thị trường, duy trì độ nhận biết thương hiệu cao.
Mở rộng thương hiệu để gia tăng qui mô kinh doanh và hiệu quả giá trị.
Ngân sách marketing được cân đối hiệu quả để đảm bảo mục tiêu lợi nhuận.
Thương hiệu Việt Nam
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, marketing được
xem như là một công cụ hỗ trợ hoạt động bán hàng chủ yếu nhằm đạt mục tiêu bán
hàng trong năm hơn là một định hướng chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp đa dạng hoá nghành nghề kinh doanh một cách tuỳ tiện, phát
triển thành tập đoàn gồm nhiều nghành nghề không liên quan gì với nhau mà lại
không có sự nghiên cứu chu đáo. Bước đi chiến lược nầy tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Cơn sốt thương hiệu
Nhiều doanh nghiệp chỉ nhìn phần nổi của tảng băng marketing.
Họ chỉ tập trung vào truyền thông đại chúng (ATL) mà không quan tâm và đầu tư thích
đáng vào các hoạt động marketing khác như, truyền thông BTL, kênh phân phối,
chất lượng sản phẩm, dịch vụ khách hàng, chiến lược giá, R&D và logistics.
Ngoài ra ngay cả đối với các chiến dịch truyền thong ATL, nhiều doanh nghiệp
triển khai một cách thiếu đồng bộ, thiếu sự phối hợp với các hoạt động
marketing khác.
Hệ quả của việc làm nầy là:
Không đạt hiệu quả mong muốn trong mốc thời gian đề ra.
Doanh nghiệp nghi ngờ tính hiệu quả của những khoảng ngân sách đầu tư vào
thương hiệu
Chỉ chú trọng vào những mục tiêu trước mắt, nhất thời (bán được sản phẩm)
Thiếu quan tâm thích đáng đến những mục tiêu mang tính chiến lược của thương
hiệu (định vị, quan hệ thương hiệu - người tiêu dùng, cá tính, điểm khác biệt
nổi trội của thương hiệu ...)
Nhiều doanh nghiệp thiếu tự tin, và có phần nào mang tính tự
ti mặc cảm (chẳng hạn như thương hiệu mới, doanh nghiệp nhỏ, thiếu nhân lực,
khả năng tài chính hạn hẹp, công nghệ lạc hậu, thiếu hiểu biết thị trường và
khách hàng, thiếu v.v.) nên không dám mạnh dạn đặt ra các mục tiêu to lớn, chỉ
hoạt động cầm chừng do vậy để vụt mất cơ hội.
2. Những Chuyển Biến Quan Trọng
Trong nước
WTO mở ra nhiều cơ hội và thị trường tiềm
năng cho thương hiệu Việt với môi trường cạnh tranh sòng phẳng hơn. Đồng thờI
cũng mở của thị trường Việt Nam cho nhiều thương hiệu nước ngoài từ các nước
trong khu vực và thế giới. Áp lực cạnh tranh sẽ buộc các doanh nghiệp phải tập
trung vào những thị trường trọng điểm để bảo vệ thị phần.
Sự phát triển của các phân khúc cao. Nhờ kinh
tế phát triển, thu nhập tăng, người tiêu dùng ngày nay bắt đầu chuyển từ “có
chổ trú thân, ăn no, mặc ấm” sang “ăn ngon, mặc đẹp và chổ ở tiện nghi”. Sự gia
tăng bùng nổ nhu cầu tiêu dùng cao cấp mở ra nhiều phân khúc thị trường giá trị
cộng thêm. Một số doanh nghiệp đã kịp thời nắm bắt những nhu cầu nầy và đã phát
triển sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng. Bên cạnh các sản phẩm nội địa như Phở 24,
Cà phê Highland, Spa, Trường học quốc tế, bệnh viện quốc tế … các thương hiệu
cao cấp của nước ngoài như Luis Vouton, Milano, Mango… cũng đã phát triển mạng lưới
phân phối thâm nhập vào thị trường VN để đáp ứng những nhu cầu nầy.
Cán cân thương hiệu nội-ngoại. Sức cạnh tranh
của một số thương hiệu Việt trong thời gian gần đây đã tạo ra sự chuyển biến và
thu hẹp nhận thức của người tiêu dùng về sự khác biệt giữa thương hiệu ngoại và
thương hiệu Việt (Kinh Đô, Vissan, Bia Sài Gòn…)
Thương hiệu và chứng khoán. Thị trường chứng
khoán khẳng định giá trị và sự đóng góp của thương hiệu đối với giá trị của
doanh nghiệp và quyền lợi của cổ đông. Những doanh nghiệp quan tâm và làm tốt
công tác marketing hơn, cổ phiếu thường được đánh giá cao hơn những doanh
nghiệp có chỉ số PE cao hơn nhưng không quan tâm thích đáng đến công tác
marketing và thương hiệu.
Cổ phần hoá. Cổ phần hoá cắt đứt sự bảo bọc
của nhà nước đặt doanh nghiệp vào thế phải tự chèo chống và cạnh tranh. Nhiều
doanh nghiệp đã xác định “đổi mới hay là chết”, phải tái cấu trúc bộ máy doanh
nghiệp để nâng cao tính hiệu quả và để có thể cạnh tranh tốt hơn. Cổ phần hóa
cũng tạo ra những sự chuyển đổi sợ hữu ngoạn mục. Đây cũng là những cơ hội làm
ăn lớn cho những ai biết nắm bắt.
Môi trường cạnh tranh. Việc nhà nước quyết
định tách các doanh nghiệp quốc phòng và doanh nghiệp Đảng làm kinh tế đơn
thuần sang thành doanh nghiệp kinh tế cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh
bình đẳng hơn giữa các thành phần kinh tế.
An toàn vệ sinh và môi trường. Các yếu tố an
toàn, vệ sinh và môi trường đã được nhà nước quan tâm hơn, người tiêu dùng ý
thức hơn, cũng tạo ra những chuyển biến trên thị trường và hoạt động marketing.
Người tiêu dung ngày nay quan tâm hơn đến yếu tố vệ sinh và an toàn, họ chấp
nhận trả giá cao hơn để mua những sản phẩm vệ sinh hơn, an toàn hơn. Diễn biến
nầy của thị trường cũng sẽ tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh, cơ hội marketing sản
phẩm.
Khu vực và thế giới
Công nghệ thông tin. Sự phát triển nhanh
chóng của CNTT tạo ra nhiều kênh thông tin mới, cung cấp cho NTD nhiều thông
tin về sản phẩm, nhiều lựa chọn phù hợp với nhu cầu hơn. Các kênh thông tin
điện tử với giá ngày càng rẻ hơn đã thực sự làm thay đổi cách mà các nhà
marketer đưa sản phẩm đến với người tiêu dung.
Người tiêu dùng ngày nay không cần phải đi ra khỏi nhà mà vẫn có thể chọn mua
cho mình một sản phẩm ưng ý qua internet, điện thoại hay các kênh truyền hình
tương tác...
Quốc gia xuất xứ. Xu hướng “outsource” từ
phương Tây nhằm giảm giá thành sản xuất đã phần nào làm suy giảm tầm quan trọng
của yếu tố “quốc gia xuất xứ”. Một số quốc gia xuất xứ trước đây được cho là
mang đặc trưng chất lượng thấp nay cũng đã được đánh giá cao hơn như Korea,
Trung Quốc và kể cả Việt Nam.
Xung đột tôn giáo. Xung đột Hồi giáo và
phương Tây làm xoay chuyển hướng đầu tư của các nước Trung Đông và các quốc gia
Hồi giáo từ Mỹ và Tây Âu sang các quốc gia khác. Ở tầm quốc gia nếu chính quyền
biết tận dụng tốt thì đây là một cơ hội hiếm để phát triển kinh tế và thu hút
đầu tư. Kể từ sau sự kiện 9-11 khi Mỹ và các nước Tây Âu siết chặc kiểm soát
các hoạt động có liên quan đến các nước Trung Đông, Malaysia, Thái Lan đã trở
thành một điểm đến được cộng đồng hồi giáo và các nước Trung Đông chọn để thay
thế cho các nước phương Tây.
Tình trạng ấm dần lên của trái đất. Tình
trạng ấm lên của trái đất, cuộc chiến Iraq và mối đe doạ của một một cuộc khủng
hoảng năng lượng toàn cầu tạo điều kiện phát triển những sản phẩm sử dụng công
nghệ nhiên liệu thay thế, năng lượng xanh và chất lượng khí thải. Nhiều quốc
gia đầu tư khá mạnh vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm xanh vì họ cho rằng
trong vòng từ 5-10 năm tới công nghệ xanh sẽ là công nghệ dẫn dắt thị trường.
H5N1. Dịch cúm và các bệnh gia súc khác cũng
làm thay đổi thói quen ẩm thực của loài người, nhu cầu của các sản phẩm gia cầm
đã giảm sút đáng kể. Điều nầy tạo ra cơ hội cho các nghành thực phẩm thay thế
khác.
3. Dự Báo Xu Hướng Marketing Vietnam
Vai trò của thương hiệu. Vai trò của thương
hiệu và marketing ngày càng được khẳng định như là một công cụ cạnh tranh không
thể thiếu trong nền kinh tế thị trường.
Hoạt động marketing đi vào chiều sâu. Trong
một thị trường có nhiều sản phẩm cạnh tranh, khách hàng hàng ngày tiếp xúc với
quá nhiều thông điệp marketing và có quá nhiều sự chọn lựa, thì một độ nhận
biết cao đối với một thương hiệu không thôi là chưa đủ, khách hàng muốn biết cụ
thể thương hiệu đó mang lại lợi ích ưu việt gì so với các sản phẩm khác, có phù
hợp với tôi không...
Thị trường phân khúc. Nhu cầu của mảng thị
trường giá trị cộng thêm, thị trường phân khúc cao sẽ ngày càng phát triển và
định hình rõ hơn, thị trường đặc dụng ngày càng tăng về tỉ lệ so với thị trường
đồng dạng.
Điểm bán hàng. Nhờ tiêu chuẩn sống được nâng
cao, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khoẻ hơn, yếu tố vệ sinh, an
toàn sẽ trở thành những “điểm bán hàng” hay thông điệp định vị quan trọng.
Doanh nghiệp tái cơ cấu. Sau làn sóng đa dạng
hoá ngành nghề sẽ là làn sóng tối ưu hoá nghành nghề. Một số doanh nghiệp đi
vào những nghành nghề mà không có lợi thế cạnh tranh có thể sẽ phải tái cơ cấu
hoặc sẽ phải trả giá.
Thương hiệu và thị trường chứng khoán. Bên
cạnh các khách hàng truyền thống, các doanh nghiệp tham gia thị trường chứng
khoán sẽ phải có những chiến lược truyền thông đặc biệt nhắm đến các nhà đầu tư,
nhằm có thể duy trì giá chứng khoán cao.
4. Một Số Đề Xuất
Liên kết chuổi giá trị. Liên kết các doanh
nghiệp trong chuổi giá trị với nhau để tối ưu hoá hoạt động và bảo vệ thị
trường khỏi sự thâm nhập từ bên ngoài.
Liên kết thương hiệu. Tận dụng cơ hội các
thương hiệu lớn đổ bộ vào VN, chủ động liên kết để hưởng lợi từ uy tín các
thương hiệu lớn và chia thị trường.
Tập trung thị trường trọng yếu. Nếu bạn không
đủ sức cạnh tranh giành vị trí số 1 trên thị trường hãy nhắm vào vị trí số 1
của một của 1 phân khúc.
Phân khúc nhu cầu cao. Nắm bắt nhu cầu thị
trường nhanh chóng xây dựng giải pháp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các
phân khúc cao cấp.
Nghiên cứu và phát triển. Cập nhật công nghệ,
đầu tư vào R&D để chủ động sáng tạo nhằm xây dựng và duy trì lợi thế cạnh
tranh về công nghệ.
Mua bản quyền hoặc mua nhượng quyền. Đi tắt
đón đâu thị trường bằng licensing và franchising.
Vị trí chiến lược. Chiếm lĩnh những vị trí
thuận lợi cho việc xây dựng điểm bán hàng, kho trung chuyển, nhà máy sản xuất.
Cho dù sau nầy không có nhu cầu sử dụng hết doanh nghiệp luôn có thể nhượng
quyền khai thác với giá cao, hoặc có thể sử dụng lợi thế về mạng lưới kho vận
để làm đối trọng trong khi thương lượng với các đối tác khác mạnh hơn mình ở
những tiêu chí khác (thương hiệu, công nghệ, nguồn vốn…)
Biết tận dụng lợi thế của doanh nghiệp địa phương.
Tận dụng lợi thế của một doanh nghiệp địa phương, khai thác triệt để những khía
cạnh mà các doanh nghiệp, tập đoàn lớn thường không thể làm tốt bằng doanh
nghiệp địa phương.
“Tiêu chuẩn địa phương”. Bảo vệ thị trường
bằng cách lobby chính phủ để xây dựng các chuẩn địa phương (local
specifications) nhằm hạn chế ảnh hưởng của “tiêu chuẩn Mỹ”, tiêu chuẩn Châu Âu”…
Chia thị phần. Nếu bạn không thể ngăn chặn
được, hãy chủ động chia thị trường cho đối thủ cạnh tranh.
Marketing một cách có hiệu quả. Nếu không đủ
ngân sách cho ATL, hãy khai thác triệt để những công cụ marketing chi phí thấp
để xây dựng thương hiệu (BTL, PR, sales promotion, channel management, KAM,
CRM)
Tính chuyên nghiệp và tối ưu hóa hoạt động.
Đào tạo nhân viên, cập nhật kiến thức, kỹ năng và công nghệ nhằm tối ưu hoá
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Học từ những điển hình tốt. Hãy học từ kinh nghiệm của các thương hiệu gần gủi với điều kiện và môi trường của doanh nghiệp Việt Nam như Samsung, Lenovo … để xây dựng thương hiệu, làm chủ thị trường (phân khúc) trong nước và phát triển thị trường ra nước ngoài khi có điều kiện.
- 16/10/2008 04:56 - 10 lỗi PR lớn nhất
- 16/10/2008 04:54 - PR & Những quy tắc mới
- 16/10/2008 04:51 - Để quảng cáo hiệu quả hơn
- 16/10/2008 04:49 - Câu chuyện PR - Công thức bí mật cho thành công
- 16/10/2008 04:44 - Những "Hạt sạn" không đáng có trong tiếp thị thương hiệu
- 16/10/2008 04:43 - 10 ý tưởng PR sáng tạo
- 16/10/2008 04:40 - 5 từ ngữ tối kỵ trong quảng cáo
- 16/10/2008 04:35 - Bảy hành động tiếp thị khi đưa ra một sản phẩm mới
- 16/10/2008 04:32 - Làm gì để có được một "slogan" hay?
- 16/10/2008 03:39 - Tại sao quảng cáo lại thất bại?
- 16/10/2008 03:01 - Marketing Là Gì?
- 16/10/2008 02:53 - Giá trị xúc cảm và việc quản lý các mối quan hệ với khách hàng
- 16/10/2008 02:40 - Tại sao "Quảng cáo thoái vị" ?
- 16/10/2008 02:37 - Quản trị thương hiệu hướng tới khách hàng
- 16/10/2008 02:28 - Loại bỏ nhãn hiệu yếu kém để giữ khách hàng (Phần cuối)
- 16/10/2008 02:26 - PR hiệu quả với túi tiền eo hẹp!
- 16/10/2008 01:41 - Làm thế nào để quảng cáo hiệu quả trên các phương tiện thông tin đại chúng?
- 16/10/2008 01:36 - Loại bỏ nhãn hiệu yếu kém để giữ khách hàng (Phần đầu)
- 15/10/2008 10:41 - IBM và nghệ thuật tiếp thị trực tuyến

