KỸ NĂNG RA QUYẾT ĐỊNH
1 - Khái niệm
Như đa đề cập ở trên. Quyết định quản trị là phương cách hành động
mang tính sáng tạo của chủ doanh nghiệp (Giám đốc) nhằm xử lý một vấn đề đa
chín muồi trên cơ sở hiểu biết các quy luật vận động khách quan của hệ thống bị
quản trị và việc phân tích các thông tin về hiện trạng của hệ thống. Từ khái
niệm này có thể xác định nội dung của một quyết định là nhằm để trả lời được
các câu hỏi sau đây: Làm gì? Ai làm? Khi nào làm? Làm ở đâu? Điều kiện vật chất
để thực hiện là gì? Làm như thế nào? Bao giờ kết thúc? Kết quả tối thiểu phải
đạt là gì? Tổ chức kiểm tra và tổng kết báo cáo như thế nào?
2 - Các nguyên tắc cơ bản ra quyết định
a. Nguyên tắc về định nghĩa
Người ta chỉ có thể đạt được một quyết định lôgic khi vấn đề đa
được định nghĩa. Muốn giải quyết có hiệu lực một vấn đề, đầu tiên phải hiểu rõ
vấn đề đó. Thời gian dùng để tìm ra giải pháp cho một vấn đề thường là vô ích,
bởi vì người ta hay tự thỏa mãn trong việc xử lý các diễn biến của nó mà quên
không bàn tới nội dung sâu sắc của nó.
b. Nguyên tắc về sự xác minh đầy đủ
Một quyết định lôgic phải được bảo vệ bằng các lý do xác minh đúng
đắn. Tất cả mọi quyết định lôgic phải
được dựa trệ những cơ sở vững chắc. Người ta phải bảo vệ được quyết định đa đề
ra bằng cả một tổng thể những sự việc hiển nhiên và có thể kiểm tra lại để
chứng tỏ quyết định đó là hợp lý và lôgic. Mà một người khác nếu quan sát tình
hình cũng dưới góc độ đó và trong hoàn cảnh đó, thì dù họ có thể có những ý
kiến bất đồng hay những định kiến và lợi ích khác thì họ cũng buộc phải đi tới
cùng kết luận đó.
c. Nguyên tắc về sự đồng nhất
Thực tế thường xảy ra tình trạng cùng một sự việc, có thể có nhiều
quan điểm, nhiều cách nhìn nhận khác nhau tùy thuộc vào người quan sát và không
gian, thời gian diễn ra sự việc đó. Chẳng hạn, cạnh tranh dưới cơ chế quản lý
bao cấp của các nước XHCN bị coi là một hiện tượng xấu, thì ngày nay tất cả các
nước thực hành nền kinh tế thị trường đều coi là một hiện tượng tất yếu và lành
mạnh. Cho nên ta cần phải xác định một cách rõ ràng những sự việc và để làm
việc đó, cần phải tin chắc rằng ta đa nghĩ tới những sự khác nhau có thể có do
các sự thay đổi về địa điểm hay về thời đại gây ra.
3 - Yêu cầu với các quyết định
a. Tính khách quan và khoa học
Các quyết định là cơ sở quan trọng đảm bảo cho tính hiện thực và
hiệu quả của việc thực hiện chúng, cho nên nó không được chủ quan tùy tiện,
thoát ly thực tế. Vì quyết định là sản phẩm chủ quan sáng tạo của con người, do
đó đảm bảo tính khách quan không phải là việc đơn giản, nhất là trong những
trường hợp việc thực hiện các quyết định có liên quan đến lợi ích của người ra
quyết định.
Tính khoa học của các quyết định là sự thể hiện của những cơ sở,
căn cứ, thông tin, nhận thức, kinh nghiệm của nhà quản trị trong việc xử lý,
giải quyết những tình huống cụ thể xuất hiện đoi hỏi có sự can thiệp bằng các
quyết định của họ, nó phải tuân thủ đoi hỏi của các quy luật khách quan.
b. Tính có định hướng
Một quyết định quản trị bao giờ cũng phải nhằm vào các đối tượng
nhất định, có mục đích, mục tiêu, tiêu chuẩn xác định. Việc định hướng của
quyết định nhằm để người thực hiện thấy được phương hướng công việc cần làm,
các mục tiêu phải đạt. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các quyết định có
tính lựa chọn mà người thực hiện được phép linh hoạt hơn, sáng tạo hơn trong
quá trình thực hiện quyết định.
c. Tính hệ thống
Yêu cầu tính hệ thống đối với các quyết định trong quản trị kinh
doanh đoi hỏi mỗi một quyết định đưa ra phải nhằm đạt được một nhiệm vụ nhất
định, nằm trong một tổng thể các quyết định đa có và sẽ có nhằm đạt tới mục
đích chung.
d. Tính tối ưu
Trước mỗi vấn đề đặt ra cho doanh nghiệp thường có thể xây dựng
được nhiều phương án khác nhau cùng nhằm đạt tới mục tiêu. Yêu cầu phải đảm bảo
tính tối ưu có nghĩa là quyết định sẽ đưa ra để thực hiện phải là quyết định có
phương án tốt hơn những phương án quản trị khác và trong trường hợp có thể được
thì nó phải là phương án quyết định tốt nhất.
e. Tính cô đọng dễ hiểu
Dù được biểu hiện dưới hình thức nào các quyết định đều phải ngắn
gọn, dễ hiểu, để một mặt tiết kiệm được thông tin tiện lợi cho việc bảo mật và
di chuyển, mặt khác làm cho chúng đỡ phức tạp giúp cho người thực hiện tránh
việc hiểu sai lệch về mục tiêu, phương tiện và cách
thức thực hiện.
f. Tính pháp lý
Đoi hỏi các quyết định đưa ra phải hợp pháp và các cấp thực hiện
phải thực hiện nghiêm chỉnh.
g. Tính góc độ đa dạng hợp lý
Trong nhiều trường hợp các quyết định có thể phải điều chỉnh trong
quá trình thực hiện. Những quyết định quá cứng nhắc sẽ khó thực hiện và khi có
biến động của môi trường sẽ khó điều chỉnh được.
h. Tính cụ thể về thời gian thực hiện
Trong mỗi quyết định cần bảo đảm những quy định về mặt thời gian
triển khai, thực hiện và hoàn thành để cấp thực hiện không được kéo dài thời
gian thực hiện.
4 - Các bước ra quyết định
Sơ đồ 3: Các bước quyết định
Quá trình đề ra quyết định bao gồm các bước sau:
a. Sơ bộ đề ra nhiệm vụ
Quá trình ra quyết định phải bắt đầu từ việc đề ra nhiệm vụ, nhưng
không phải bao giờ cũng đề ra được ngay nhiệm vụ môt cách chính xác. Tùy theo
mức độ nghiên cứu những vấn đề mới xuất hiện, giải quyết những vấn đề này có
ảnh hưởng nhiều hay ít đến kết quả của quyết định. Vì thế, trong quá trình đề
ra quyết định, phải làm rõ thêm nhiệm vụ đa đề ra và đôi khi phải thay đổi
nhiệm vụ. Khi đề ra nhiệm vụ, nếu tương tự như những nhiệm vụ đa được quyết định
trước đây, có thể sử dụng kinh nghiệm đa có và đạt ngay được mức độ chính xác
cao. Khi quyết định những nhiệm vụ có nội mới ở bước đầu phải sơ bộ đề ra nhiệm
vụ và là rõ dần nó trong quá trình quyết định nhiệm vụ.
Muốn đề ra nhiệm vụ, trước hết cần phải xác định:
- Vì sao phải đề ra nhiệm vụ, nhiệm vụ đó thuộc loại nào, tính cấp
bách của nó.
- Tình huống nào trong sản xuất có liên quan đến nhiệm vụ đề ra,
những nhân tố ảnh hưởng đến nhiệm vụ.
- Khối lượng thông tin cần thiết đa có để đề ra nhiệm vụ, cách thu
thập những thông tin còn thiếu.
b. Chọn tiêu chuẩn đánh giá các phương án và các mô hình xử lý
Muốn so sánh các phương án một cách khách quan để lựa chọn phương
án tốt nhất cũng như thấy rõ khả năng thực hiện mục đích đề ra cần phải có tiêu
chuẩn đánh giá hiệu quả. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả phải thể hiện được bằng
số lượng, cố gắng phản ánh đầy đủ nhất những kết quả dự tính sẽ đạt, phải cụ
thể, dễ hiểu và đơn giản.
Thường các tiêu chuẩn được chọn từ các chỉ tiêu: chi phí nhỏ nhất,
năng suất cao nhất, sử dụng thiết bị nhiều nhất, sử dụng vốn sản xuất tốt nhất
v.v... Tùy theo mục đích chính của nhiệm vụ được đề ra. Ngoài ra còn có nhiều
chỉ tiêu: chất lượng sản phẩm làm ra, sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường v.v...
Việc chọn các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả là quá trình quan trọng
và phức tạp. Nếu không chú ý đến điều này, khi đề ra nhiệm vụ dễ nêu những mục
đích chung chung, do đó dẫn tới những khó khăn lớn khi chọn quyết định.
Các phương án của những quyết định phức tạp được nghiên cứu bằng
mô hình toán học. Mô hình phản ánh hoặc tái tạo đối tượng, thay thế đối tượng
để sau khi nghiên cứu mô hình thu được những thông tin về đối tượng đó. Mô hình
của đối tượng đơn giản hơn và chỉ phản ánh những mặt cơ bản để đạt mục tiêu.
Các mô hình cho phép nghiên cứu các phương án của quyết định với hao phí về sức
lực, phương tiện và thời gian.
Nhờ mô hình và máy vi tính người ta xác định nhanh chóng hiệu quả
các phương án theo tiêu chuẩn đánh giá đa chọn. Trên cơ sở đó, có thể chọn được
phương án quyết định tối ưu.
c. Thu thập thông tin để làm rõ nhiệm vụ đề ra
Chỉ có thể giải quyết đúng đắn một vấn đề nào đó nếu như có thông
tin đầy đủ và chính xác. Lượng thông tin cần thiết phụ thuộc vào tính phức tạp
của nhiệm vụ được xét và phụ thuộc vào trình độ thành thạo, kinh nghiệm của
người ra quyết định. Người lãnh đạo lành nghề có kinh nghiệm khi giải quyết
những vấn đề thường gặp, có thể bổ sung những tin đa nhận được, xuất phát từ
kinh nghiệm của mình trong các trường hợp tương tự. Nhưng cần thiết phải thu
thập mọi thông tin, nếu điều kiện cho phép, về tình huống nhất định. Nếu thông
tin chưa đủ để quyết định vấn đề một cách chắc chắn, phải có biện pháp bổ sung
tin.
Đôi khi cần giải quyết những vấn đề cấp bách và quan trọng, người
lãnh đạo có thể trực tiếp tìm hiểu tình hình tại chỗ. Công việc này thường
không tốn nhiều thời gian mà lại giúp cho người lãnh đạo có thông tin cần
thiết, đầy đủ và chính xác nhất.
Không phải tất cả mọi thông tin thu nhận được luôn luôn chính xác
đầy đủ. Trong một số trường hợp, thông tin bị sai lệch đi một cách có ý thức do
xuất phát từ các lợi ích cục bộ, hoặc do phải truyền đạt quá nhiều cấp bậc.
Nhưng đôi khi thông tin bị méo đi một cách vô ý thức vì cùng một hiện tượng
những người khác nhau có thể có những ý kiến chủ quan khác nhau hoặc trong cạnh
tranh nhiều thông tin giả (nhiễu) được các đối thủ tung ra để đánh lạc hướng
đối phương v.v... Cho nên, người lãnh đạo phải chú ý tất cả những điều đó khi
đánh giá các nguồn thông tin.
d. Chính thức đề ra nhiệm vụ
Bước này có ý nghĩa rất quan trọng để đề ra quyết định đúng đắn.
Chỉ có thể chính thức đề ra nhiệm vụ sau khi xử lý các thông tin thu được do
kết quả nghiên cứu về tính chất của nhiệm vụ, tính cấp bách của việc giải quyết
nhiệm vụ đó, tình huống phát sinh, việc xác định mục đích và tiêu chuẩn đánh
giá hiệu quả.
e. Dự kiến các phương án quyết định
Nêu những phương án quyết định sơ bộ trình bày dưới dạng kiến
nghị. Những phương án sơ bộ này thường xuất hiện ngay ở bước đề ra nhiệm vụ.
Cần xem xét kỹ lưỡng mọi phương án quyết định có thể, ngay cả đối với những
phương án mà mới nhìn qua tưởng như không thực hiện được. Trước hết, nên sử dụng
kinh nghiệm đa có khi giải quyết những vấn đề tương tự. Nếu như kinhnghiệm đó
là kinh nghiệm tốt và những phương án riêng biệt đa cho những kết quả tốt thì
nên đưa các phương án đó vào trong số các phương án quyết định. Tuy nhiên,
không nên dừng lại ở đó mà nên tìm các phương pháp giải quyết nhiệm vụ có hiệu
quả hơn. Có thể dùng phương pháp lập luận lôgic và trực giác của người lãnh đạo
để lựa chọn phương án.
Cần xác định xem xây dựng phương án nào thì có lợi, còn phương án
nào khó thực hiện do nguyên nhân nào đó. Để lựa chọn lần cuối chỉ nên để lại
nhữngà phương án quyết định thiết thực nhất, bởi vì số lượng các phương án càng
nhiều thì càng khó phân tích, đánh giá hiệu quả của chúng.
f. Đề ra quyết định
Sau khi đánh giá những kết quả dự tính của quyết định và lựa chọn
được phương án tốt nhất, chủ doanh nghiệp phải trực tiếp đề ra quyết định và
chịu trách nhiệm trực tiếp về quyết định đó.
g. Truyền đạt quyết định đến người thi hành và lập kế hoạch tổ
chức
Trước hết quyết định cần được nêu thành mệnh lệnh hay chỉ thị để
có hiệu quả của một văn bản hành chính. Trong bản thân quyết định không phải
chỉ dự tính làm cái gì mà còn phải quy định ai làm, ở đâu, khi nào làm và làm
bằng cách nào, ai kiểm tra việc thực hiện quyết định, bao giờ thì kiểm tra và
kiểm tra như thế nào? Tất cả những điều đó tạo thành những tiền đề cần thiết về
tổ chức thực hiện quyết định.
Tiếp theo là tuyên truyền và giải thích trong doanh nghiệp ý nghĩa
và tầm quan trọng của quyết định đa đề ra, những kết quả có thể đạt được của
quyết định ấy. Sau đó vạch phương trình thực hiện quyết định này.
Kế hoạch tổ chức phải xuất phát từ việc quy định rõ giới hạn hiệu
lực của quyết định và phải theo đúng thời hạn đó trong quá trình thực hiện.
Việc tổ chức phải cụ thể và chi tiết, nghĩa là tùy theo tính chất và mức độ
phức tạp của nhiệm vụ đa đề ra mà phân định toàn bộ khối lượng công việc theo
các đối tượng và các khoảng thời gian. Trong kế hoạch phải nêu rõ: Ai lam? Và
Bao giờ thì bắt đầu? Lúc nào thì kết thúc? Thực hiện bằng phương tiện nào?
Trước khi chỉ đạo tiến trình thực hiện kế hoạch, cần chú ý đặc
biệt vấn đề tuyển chọn cán bộ với số lượng cần thiết và chuyên môn thích hợp.
Có ba yêu cầu quan trọng đối với cán bộ: có uy tín cao trong những vấn đề mà họ
sẽ chỉ đạo giải quyết; được giao toàn quyền khi chỉ đạo thực hiện; có khả năng
tiến hành kiểm tra. Người thực hiện việc kiểm tra nhất thiết không được dính
líu về lợi ích vật chát với đối tượng bị kiểm tra.
Kế hoạch tổ chức cần năng động, sao cho vào thời gian nhất định và
tại một điểm nhất định có thể tập trung được lực lượng chủ yếu.
h. Kiểm tra việc thực hiện quyết định
Kiểm tra tình hình thực hiện quyết định có vai trò quan trọng và
nó có hai ảnh hưởng tới thực tiễn kinh tế. Thứ nhất, kiểm tra tác động tới hành
vi của con người, nâng cao trách nhiệm của họ và động viên họ thực hiện chính
xác những hoạt động đa nằm trong kế hoach. Thứ hai, việc tiến hành kiểm tra
liên tục thúc đẩy sự thực hiện kịp thời và có trình tự các nhiệm vụ đã đặt ra.
Như vậy, tổ chức tốt việc kiểm tra sẽ đem lại cho quá trình thực
hiện quyết định sự linh hoạt cần thiết; nếu không, xã hội sẽ chịu những thiệt
hại lớn. Những thiệt hại đó bao hàm những sự trì trệ, sai hỏng v.v... xảy ra do
các quyết định không được hoàn thành đúng thời hạn hoặc do kỷ luật lao động bị
vi phạm. Từ đó, người ta thấy rõ mục đích của việc kiểm tra không chỉ là để kịp
thời đề ra những biện pháp khắc phục những lệch lạc đa thấy, hoặc tốt hơn nữa
là nhằm ngăn ngừa việc xảy ra những lệch lạc.
Việc kiểm tra được tổ chức tốt sẽ là một sự liên hệ ngược có hiệu
lực tốt, nếu không nó sẽ không giải quyết kịp thời các vấn đề đang xuất hiện,
không khắc phục được các khâu yếu v.v... và quá trình quyết định khó tiến hành
một cách bình thường.
i. Điều chỉnh quyết định
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự cần thiết phải điều chỉnh quyết
định trong quá trình thực hiện chúng. Các nguyên nhân đó thường là:
- Tổ chức không tốt việc thực hiện quyết định.
- Có những thay đổi đột ngột do nguyên nhân bên ngoài gây ra.
- Có sai lầm nghiêm trọng bản thân quyết định, và một số nguyên
nhân khác.
Không nên do dự trong việc điều chỉnh quyết định khi một tình
huống đa hình thành làm cho một quyết định trước đây đa mất hiệu lực, không còn
là một nhân tố tổ chức mà trái lại trên một chừng mực nào đó đang trở thành
nhân tố phá hoại.
Đối với các quyết định được đề ra trong điều kiện bất định, cần dự
kiến trước những sửa đổi trong quá trình thực hiện chúng. Những điều kiện bất
định thể hiện ở chỗ thông tin không đầy đủ, khiến cho tầm dự đoán bị thu hẹp
đáng kể, nhưng nhiệm vụ lại yêu cầu phải đề ra quyết định không chờ đợi đến khi
hoàn toàn hiểu rõ tình hình.
Trong điều kiện như vậy, khi đề ra quyết định, chủ doanh nghiệp đa
xuất phát từ chỗ là khi tình huống đa lộ rõ hoàn toàn hay khi đa tích lũy được
kinh nghiệm cần thiết thì quyết định sẽ được sửa đổi. Sự điều chỉnh quyết định
không nhất thiết là do xuất hiện tình huống bất lợi. Chẳng hạn, trong quá trình
thực hiện quyết định có thể phát hiện ra những khả năng mới mà trước đó ta chưa
dự kiến được, đem lại kết quả cao hơn kết quả dự định, vì thế cần có những sửa
đổi quyết định.
Chủ doanh nghiệp cần có bản lĩnh, đôi khi phải khắc phục cả sự
phản đối trực tiếp để điều chỉnh quyết định, tránh để tình trạng quyết định quá
vô lý gây nên tâm trạng chán chường cho những người thi hành. Mặt khác, cần chú
ý rằng những sửa đổi nhỏ không căn bản sẽ tạo nên các xáo trộn về mặt tổ chức,
gây ra sự mất tin tưởng ở tính ổn định của nhiệm vụ và dẫn đến những thiệt hại
lớn hơn so với việc không sửa đổi.
k. Tổng kết tình hình thực hiện quyết định
Đây là một yếu tố quan trọng trong công tác quản lý quyết định
doanh nghiệp.
Trong mọi trường hợp, không kể là quyết định có được thực hiện đầy
đủ và đúng hạn hay không, đều cần đúc kết các kết quả thực hiện quyết định. Qua
việc đúc kết các kết quả, các tập thể biết được họ có tầm quan trọng xã hội như
thế nào. Đó cũng là sự học tập thực tiễn ngay trên kinh nghiệm của mình, làm
phong phú kho tàng kinh nghiệm quản lý, kiểm tra hiệu quả của cách đề ra và
cách thực hiện quyết định quản lý. Trong quá trình tổng kết các kết quả, cần xem
xét chu đáo, tất cả các giai đoạn công tác, phân tích rõ tất cả những thành
công cũng như những sai lầm, thiếu sót, phát hiện hết các tiềm năng chưa được
sử dụng. Hệ thống mọi chỉ tiêu và nhân tố của hoạt động kinh tế, mối liên hệ
qua lại và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng. Khi tổng kết cần xây dựng kế hoạch
tổng kết, lựa chọn và kiểm tra những thông tin cần thiết, phân tích và so sánh
các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, tìm ra nguyên nhân thành công hoặc thất bại và
đánh giá tổng hợp.
5 - Trở ngại của chủ doanh nghiệp khi ra quyết định
Một vấn đề đa chín muồi và đa được đặt ra, song quyết định có đưa
ra thực hiện được hay không còn tùy thuộc vào động cơ và bản lĩnh của của một
giám đốc.
Để có một quyết định đúng đắn phụ thuộc rất lớn vào động cơ của
người quyết định ra nó. Những động cơ ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra quyết
định của giám đốc đó là: Lợi ích kinh tế (bao gồm lợi ích cá nhân, lợi ích
doanh nghiệp và lợi ích của xã hội), các ràng buộc và uy tín, trách nhiệm của
giám đốc. Ngoài việc phụ thuộc vào động cơ, quyết định còn phụ thuộc vào bản
lĩnh của giám đốc tức là người giám đốc có dám chấp nhận rủi ro để vượt qua mọi
trở ngại trong khi ra quyết định hay không.
Các trở ngại thường xảy ra là sự thiếu chuẩn xác, thiếu đồng bộ
hoặc bất hợp lý của hệ thống luật pháp Nhà nước, mâu thuẫn giữa tham vọng và
khả năng có hạn, cuối cùng là sự biến động hàng ngày của thị trường. Tất cả
những khó khăn đó đoi hỏi giám đốc phải có nghị lực mới ra quyết định kịp thời
và có hiệu quả.
- 02/12/2008 07:59 - Phỏng vấn... thôi việc: Một công cụ giải mã nhân viên
- 27/11/2008 09:34 - Bài học thành công của tỷ phú Canada – Schwartz
- 27/11/2008 09:32 - Tạo vốn kinh doanh
- 27/11/2008 09:30 - Kinh nghiệm khi đầu tư vào các giải pháp công nghệ thông tin
- 27/11/2008 09:29 - Làm gì trong suy thoái?
- 12/11/2008 09:07 - Con người là tài sản quý nhất của doanh nghiệp
- 12/11/2008 09:05 - Đừng tuyển dụng "bản sao" của sếp
- 12/11/2008 04:17 - 14 tiêu chí cơ bản về quản lý để đánh giá sự thành công một tổ chức
- 09/11/2008 05:55 - 7 phẩm chất của nhà quản lý hiện đại
- 09/11/2008 05:43 - 6 kỹ năng giải quyết vấn đề
- 08/11/2008 02:24 - 6 bí quyết thành công của doanh nhân thế giới
- 07/11/2008 08:39 - Chiến lược đại dương xanh
- 07/11/2008 08:22 - Nguyên lý 80/20. Bí quyết làm ít được nhiều (Richard Koch) Cuối
- 07/11/2008 08:16 - Nguyên lý 80/20. Bí quyết làm ít được nhiều (Richard Koch) Phần II
- 07/11/2008 07:39 - Con người 80/20. Chín yếu tố cốt lõi của thành công trong công việc (Richard Koch) Phần I
- 07/11/2008 05:31 - Những yếu tố cần cân nhắc trong cuộc chiến giành giật nhân tài
- 07/11/2008 05:29 - Nỗi lo nguồn nhân lực
- 07/11/2008 05:25 - Các nhân viên có tin tưởng bạn không?
- 07/11/2008 05:23 - Có hay không thị trường nhân sự cao cấp tại Việt Nam?
- 07/11/2008 05:20 - Để có nhân viên trung thành - Không dễ!

